
Động
Nhị Thanh được danh nhân Ngô Thì Sĩ khám phá và tôn tạo khi ông làm Quan Đốc
Trấn Lạng Sơn từ năm 1777 – 1780. Ông là một bậc hiền thánh đã có công lao to
lớn trong việc mở mang ruộng đất, yên ổn dân sinh và xây dựng Lạng Sơn thành khu
thương mại sầm uất. Trong thời gian ngao du sơn thuỷ trong vùng, Ông đã phát
hiện ra động Nhị Thanh và cho hưng công xây dựng chùa Tam Giáo, Đình duyệt quân,
Thạch miên am, Thụy tuyền hiên, Trai táo. Ngô Thì Sĩ bắt đầu cho tiến hành việc
tôn tạo từ tháng Trọng Thu năm Kỷ Hợi (tức tháng 5 năm 1779 âm lịch) đến tháng
Mạnh Thu (tức tháng 7) cùng năm thì hoàn thành.
Ngô
Thì Sĩ là người làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây cũ. Khi đỗ đạt
làm quan, để tưởng nhớ đến quê hương, Ông đã dùng hai chữ Thanh của quê hương
đặt cho tên hiệu của mình là: Nhị Thanh Cư Sĩ và sau này khi phát hiện ra động
Nhị Thanh, Ông đã dùng chính tên hiệu của mình đặt tên cho động, chính vì vậy mà
động có tên gọi là động Nhị Thanh. Tại đây, người xưa đã khắc chân dung Ngô Thì
Sĩ trên hốc đá nhỏ ở độ cao 8m trong tư thế Kiết Già ngồi dựa vào vách đá giống
như người thật của ông. Đây là bức chạm khắc chân dung có giá trị nghệ thuật độc
đáo được tạo tác vào đá nhưng không làm mất đi vẻ mềm mại của thân thể (trong
bia Ma Nhai Bài Ký Động Nhị Thanh nói rõ về điều này). Ngày nay nhằm báo đáp
công ơn của Ngô Thì Sĩ, nhân dân trong vùng đã cho xây dựng ban thờ Ông ngay
trong động Nhị Thanh.
Ngày
28 tháng 7 năm 1779 âm lịch, Ngô Thì Sĩ tổ chức mở hội tại nơi đây, trên chùa
Tam Giáo thì tế lễ, trong động Nhị Thanh tổ chức ăn uống, ca hát, múa rối nước
và các trò diễn khác trong 7 ngày 7 đêm. Trong bia Ma Nhai “Bài ký động Nhị
Thanh” có ghi về việc này như sau: Đêm đầu mở hội có một con hổ to như con bò
đến gần sân khấu hang Thông Thiên vòng quanh đàn lễ rồi đi không thấy quay trở
lại, nên dân chúng ban đêm không còn sợ hãi nữa; lại có một con Giao Long, râu
và đuôi đều đỏ vào phường múa rối nước như muốn xem trò, đuổi cũng không đi, khi
các trò diễn kết thúc thì không thấy đâu nữa nên mọi người dự hội ai cũng cho là
lạ. Sau đó Ngô Thì Sĩ đã cho tạc tượng Hổ ở bên phải và tượng Giao Long ở bên
trái trước cửa động Nhị Thanh để ghi nhớ hai con vật linh
thiêng.
![]() |
| Chùa Tam Giáo |
Phía
bên phải động Nhị Thanh là chùa Tam Giáo (Tam Giáo Tự). Ngô Thì Sĩ cho rằng đạo
là một mà thôi, Phật – Lão chỉ khác tên nhưng nội dung đều là Nho cả. Khổng Tử,
Lão Tử và Phật Thích Ca tuy tên là ba nhưng thực đạo đều thống nhất là một.
Chính vì vậy Ông đã đưa 3 đạo vào thờ chung một chùa và gọi là chùa Tam
Giáo.
Chùa
Tam Giáo còn là một loại hình kiến trúc đặc biệt: Không có mái, không có nhà,
ban thờ được đặt trong các hang, hốc đá làm cho ta có cảm giác thiên tạo với
những nhũ đá kỳ vĩ càng tạo nên sự linh thiêng của ngôi chùa. Hiện nay trong
chùa có các cung thờ như: Cung Công Đồng, Cung Tam Tòa Thánh Mẫu, Cung Sơn
Trang, Cung Tam Bảo…
Bên
trái chùa Tam Giáo là đường vào động Nhị Thanh và suối Ngọc Tuyền trong vắt ẩn
hiện dưới lùm cây trông thật nên thơ hữu tình. Phía ngoài động trên cao có dòng
chữ Hán “Nhị Thanh Động” với khổ chữ lớn khắc chìm vào vách đá. Vào phía trong
động trên vách bên phải là hệ thống bia Ma Nhai với 20 văn bia đủ mọi kích thước
xen kẽ nhau. Nội dung bia chủ yếu ca ngợi cảnh sắc thiên nhiên và con người Xứ
Lạng, ghi lại việc phát hiện, tạo dựng động Nhị Thanh và chùa Tam Giáo của các
bậc tiền nhân, trong đó có bài “Nhị Thanh động phú” tức bài phú động Nhị Thanh
của Ngô Thì Sĩ viết năm 1779 cùng bài thơ tự tán của Ông khi mới phát hiện và
đặt tên cho động Nhị Thanh và các bài viết của tiến sĩ Lê Hữu Dung – Phụng sai
Đốc đồng xứ Lạng Sơn tham hiệp quân vụ năm 1780 cùng nhiều bài viết của các danh
nhân thi sĩ khác.
Đi
thêm khoảng 100m, qua 2 chiếc cầu kiều bắc qua những khúc suối quanh co đã mở ra
một không gian rộng lớn với nóc hang cao vút, có cửa thông thiên, phía trong có
một thác nước đổ xuống theo khe đá hoà nhập cùng với suối Ngọc Tuyền chảy ngầm
dưới nền Động, tạo nên những âm thanh huyền bí. Vào năm 1779, Ngô Thì Sĩ viết
trong “Bài Ký Động Nhị Thanh” rằng: “Người đi thuyền phải cúi rạp xuống, dùng
tay vịn vào vách đá đẩy thuyền mới qua được và do suối chảy dưới nền động nên
không thấy dòng suối đâu”.
Dưới
chân thác nước, Ngô Thì Sĩ cho tôn một thềm đất cao để làm sân khấu. Tại đây ông
đã chọn làm nơi trung tâm vui chơi giải trí trong ngày mở hội ăn mừng sau khi
xây dựng xong chùa Tam Giáo và cải tạo động Nhị Thanh, sau này nơi đây trở thành
nơi hội họp biểu diễn văn nghệ của nhân dân trong những năm đế quốc Mỹ ném bom
bắn phá miền Bắc nước ta. Trên nóc động có khe nhỏ ánh mặt trời rọi qua, được
người dân gọi là hang Thông Thiên. Trong “Bài Phú Động Nhị Thanh” có
câu:
“Hang gọi tên Thông
ThiênÁnh mặt trời hơi
đỏ”
Ngô
Thì Sĩ còn cho khắc ba chữ lớn trên nóc hang là “Hang Thông
Thiên”.
Vòng
sau cánh gà sân khấu qua khúc ngoặt là đến hang Giao Long, ta như lạc vào “vườn
thạch nhũ”, chỗ rộng nhất đến 25m, chiều dài hút tầm mắt, trần và nền hang tương
đối bằng phẳng có muôn hình nhũ đá với các hình thù khác nhau: hình con voi
phục, hình rùa đang bò… Nhiều cột đá đứng bên mép suối đỡ lấy trần hang, nhiều
nhũ đá rủ, mầm đá cao thấp như những bức rèm lớn vắt lên hai bên thành động,
cảnh sắc thiên nhiên thật kỳ vĩ. Đi tiếp ra phía sau qua 3 cây cầu là đến cổng
sau thông ra bên ngoài. Từ đây có thể quan sát thấy cửa động Tam Thanh với
khoảng cách là 500m.







0 nhận xét:
Đăng nhận xét